KisStartup’s pick: Hãy tắt máy tính mà đi xây đội ngũ !

Song song với các bài viết của chính KisStartup, chúng tôi sẽ mở ra phần lựa chọn của KisStartup để các bạn có thể tham khảo những bài viết hữu ích đã qua bộ lọc của KisStartup. Tuần này chúng tôi giới thiệu với các bạn bàiTS - Mike Drucker 1 phỏng vấn với Mike Ducker. Mike Ducker tại một hội nghị khởi nghiệp Lào.

Mike Ducker, giám đốc chương trình Hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp các nước vùng sông Mekong – Tiger@Mekong do Chính phủ Mỹ tài trợ, đã có cuộc trò chuyện với Tia Sáng sau gần năm năm “đi lòng vòng” cùng những người trẻ đang khát khao thay đổi thế giới…

Thưa ông, cộng đồng khởi nghiệp vùng Mekong đang nằm đâu trên bản đồ khởi nghiệp thế giới?

Sẽ rất khó để định vị ngay được cộng đồng này, vì nó quá đa dạng. Những thành phố lớn như Bangkok hay Sài Gòn thì sôi động kinh khủng, trong khi ở những vùng nông thôn ở Lào thì chẳng ai buồn quan tâm đến khái niệm “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” cả. Tôi cho rằng còn quá nhiều việc cần phải làm cho câu chuyện khởi nghiệp ở vùng đất mới này. Cộng đồng các nhà sáng lập mới bắt đầu ở đây đang đứng trước nhiều thách thức, chẳng hạn tìm kiếm các nguồn hỗ trợ. Nhiều người phải chọn Singapore hay Malaysia như là vùng đất có thể bắt đầu hành trình của mình dễ dàng hơn. Nếu việc này cứ kéo dài, sẽ là một mối họa cho hệ sinh thái của cả vùng.

Vậy Việt Nam thì sao, thưa ông?

Đây là một vùng đất thú vị. Sự năng động của các bạn trẻ Việt Nam đang tiệm cận sự phát triển của cộng đồng khởi nghiệp Thái Lan. Tuy nhiên, tôi hay nhìn vào sự phát triển của từng thành phố một, chẳng hạn Hà Nội, Sài Gòn có thể so sánh với Bangkok về sự đông đúc của hệ sinh thái. Tiếc là tôi vẫn chưa thấy ở Việt Nam một chương trình dài hạn có thể hỗ trợ doanh nhân trẻ để họ có thể tự tin bước vào hành trình khó nhọc này.

Ai cũng nhắc mãi đến “hệ sinh thái”, vì sao vậy?

Tôi luôn hào hứng khi ghé Việt Nam, bởi biết chắc sẽ được gặp những người trẻ đang hết sức chú tâm vào các ý tưởng đổi mới sáng tạo rất “ngầu” cũng như các công nghệ mới. Hệ sinh thái là sự nương tựa lẫn nhau giữa các thành tố cấu thành cộng đồng khởi nghiệp, mà ở Việt Nam thì còn đang thiếu: 1/ Dù Chính phủ Việt Nam đang rất nỗ lực làm nhiều việc vô cùng, nhưng tôi vẫn chờ đợi một đơn vị tư nhân có thể thành công trong việc hỗ trợ khởi nghiệp. Chúng ta rất cần những đơn vị tư nhân đóng vai trò lớn hơn trong bức tranh tổng thể. Tại những nơi mà tôi đã được tham gia, kể cả vùng Detroit quê tôi, có rất nhiều những doanh nhân thành công tự nhận lấy trách nhiệm xây dựng quỹ đầu tư mạo hiểm và cả vườn ươm doanh nghiệp. 2/ Các bạn cũng đang rất cần những mentor – cố vấn đồng hành – đủ kỹ năng và thời gian và đam mê để đi cùng khởi nghiệp đến những thành tựu to lớn hơn. 3/ Cần cả những chương trình dài hạn được dựng lên với nhiệm vụ “đẩy” các doanh nghiệp khởi nghiệp đến một tầm cao mới trong thang đo kinh tế.

Ông cũng làm mentor, rồi lại đi dạy cho mentor. Ông tập trung điều gì nhất cho các startup trong giai đoạn hiện nay?

Một startup, thường đồng nghĩa với giai đoạn “giả định thành công” trên hành trình kinh doanh rất dài. Bởi vậy, từ “giả định” đến “thành công” cần phải học hỏi và hành động liên tục. Tôi tin rằng, một trong những điều rất quan trọng mà các doanh nhân khởi nghiệp cần làm, là đóng máy tính lại, bắt tay vào những công việc bên ngoài. Họ cần có những tương tác với thị trường, đối tác và cả đối thủ. Họ cần gặp gỡ để hiểu những khách hàng tiềm năng, nhà cung cấp, những người trong cùng lĩnh vực kinh doanh. Để hiểu một ngành mà mình đang muốn bước vào để thay đổi nó, cần dành nhiều thời gian ngoài đời thực, đặc biệt là hiểu về công nghệ và những xu hướng đang diễn ra. Điều thứ nhì, là rất nhiều bạn nghĩ rằng họ cần đầu tư, nhưng thực tế thì không phải vậy. Điều họ thực sự cần, là một đội ngũ đồng hành đủ mạnh để cùng nhau biến giấc mơ thành sự thật. Vì vậy, chiến lược đôi khi đơn giản là tìm kiếm những dạng người nào, những tố chất nào, những kỹ năng nào để có thể trở thành đồng sáng lập cho doanh nghiệp.

Chúng tôi thấy có hai dạng khởi nghiệp thường gặp ở Việt Nam. Một, là những bạn tựa hoàn toàn vào sức mạnh công nghệ. Và dạng thứ hai, là những người muốn theo đuổi mô hình kinh doanh truyền thống. Ông nghĩ gì về sự khác biệt này?

Nó phụ thuộc vào giấc mơ và tầm nhìn của họ. Thế giới mà tôi sống, thở và làm việc, thì toàn những người muốn dùng công nghệ để thay đổi cuộc sống của mọi người. Họ là những cá nhân hoặc đội nhóm đặc biệt sáng tạo, có thể giới thiệu những công nghệ mới hoặc phương thức kinh doanh mới. Đó mới là điều hấp dẫn của khởi nghiệp. Còn kiểu truyền thống, đơn giản là mưu sinh mà thôi, vậy ít vui hơn. Ngoài ra, thế giới không thay đổi vì một doanh nghiệp, mà cần cả một cộng đồng khởi nghiệp cùng nhau tạo nên lực đẩy, đưa công nghệ phục vụ cuộc sống, thay đổi mọi thứ ngày càng nhanh. Đó là cách mà Silicon Valley đang làm, và nhiều nơi trên thế giới đang tái lập lại mô hình này.

Có hàng trăm ngàn doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ mà mọi người dựng ra để mưu sinh. Trong khi đó, chỉ có một số rất ít doanh nghiệp khởi nghiệp được lập ra vì một sứ mệnh tạo ra sự thay đổi. Tôi không biết con số này ở Việt Nam là bao nhiêu, nhưng trên thế giới, loại doanh nghiệp liên quan đến công nghệ đổi mới sáng tạo chỉ chiếm từ 5 – 15%. Nhưng số ít này, lại chính là những người tạo ra giá trị mới, giá trị gia tăng cho thị trường. Họ chính là những người có tố chất doanh nhân, rất khác biệt, có khả năng chọc thủng bức tường để đi xuyên qua nó, tạo thành con đường mới mà chẳng mấy ai đi…

Ông nghĩ gì về việc xây dựng Hà Nội, Đà Nẵng và Sài Gòn trở thành những thành phố khởi nghiệp?

Đó là một cơ hội lớn, kèm theo là thách thức lớn hơn, không chỉ cho chính phủ mà cho rất nhiều bên khi muốn xây dựng thành phố khởi nghiệp. Khi làm việc với các lãnh đạo chính phủ, điều duy nhất mà tôi nhắc đi nhắc lại, là hãy để hệ sinh thái tự hình thành, lớn lên bằng sức của nó. Có rất nhiều tổ chức, trường đại học, khối tư nhân, cộng đồng công nghệ hay nhà đầu tư cá nhân muốn tham gia vào việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp. Vậy nên điều đơn giản, dễ dàng nhất mà chính quyền cần làm, là ngồi xuống với họ, và hỏi họ cần hỗ trợ gì thay vì cứ tạo ra những chương trình riêng của chính phủ, mà một cách vô tình rất dễ cản đường hoặc cạnh tranh với các tổ chức này.

Hay là chúng ta sẽ tập trung xây dựng Việt Nam thành trung tâm khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao?

Ở Mỹ, một vài công ty trong nhóm sáng tạo nhất chính là các công ty nông nghiệp. Sản lượng và chất lượng của nền nông nghiệp Mỹ đang trở nên đáng nể hơn bao giờ hết nhờ sự tham gia của đổi mới sáng tạo công nghệ và các doanh nhân khởi nghiệp. Tôi chưa quen nhiều các bạn làm startup nông nghiệp ở Việt Nam, nhưng nhìn chung trên thế giới, đó không phải là một lĩnh vực “dễ ăn”. Từ ý tưởng, đến công nghệ, đến nông trại là một hành trình dài, xa và gian khó. Môi trường nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp truyền thống, rất khó để thay đổi cách nghĩ, cách làm của nông dân. Giới thiệu một sản phẩm mới cho thanh niên ở các đô thị thì dễ dàng, vì khả năng thích nghi với cái mới, công nghệ mới của họ. Nhưng khó không có nghĩa là không làm được, nếu có một tầm nhìn và khát vọng đủ lớn để có thể thay đổi chất lượng nền nông nghiệp. Nhưng cần rất nhiều kiên trì để làm việc này. Chẳng hạn, ở Kenya, sự thay đổi diễn ra rất rất chậm, nhưng vẫn diễn ra…

Ông nghĩ là Việt Nam có nên học theo hình mẫu khởi nghiệp của nước nào không?

Suy nghĩ đầu tiên của tôi, là mình phải đi con đường của riêng mình, tất nhiên là phải để lực lượng tư nhân làm người dẫn đường. Từ đó, chúng ta có thể tìm thấy mô hình phát triển phù hợp nhất với Việt Nam. Ví dụ như ở đất nước mà tôi có nhiều kinh nghiệm là Ai Cập, khá giống với Việt Nam về dân số và là quốc gia nông nghiệp. Chuyện xảy ra ở thủ đô Cairo, là có 5 – 6 người anh hùng là doanh nghiệp tư nhân quyết định “tạo ra sự thay đổi” và họ tổ chức rất nhiều hoạt động. Từ đó, hàng loạt các nhóm thanh niên khác cũng được hình thành, các tổ chức phi lợi nhuận được tạo ra và việc khởi nghiệp được triển khai một cách chuyên nghiệp hơn. Họ làm việc chung với nhau, theo một công thức đặc biệt: không có tổ chức nào có thể làm hết tất cả mọi việc, mọi người tựa vào nhau để phát triển. Các vườn ươm, nhóm nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm thực hiện hết trách nhiệm của vai trò mình được giao một cách gắn kết với mục tiêu chung là xây dựng nên những công ty khởi nghiệp thành công. Tôi thấy Ai Cập nghe có vẻ xa xôi, nhưng bài học từ xứ này có thể là những gợi ý tốt cho Việt Nam.

Ông có một danh mục những điều kiện cần của công ty khởi nghiệp mà ông sẽ tham gia hỗ trợ không?

Yếu tố quan trọng nhất là những người sáng lập và đội ngũ của họ. Họ nghiêm túc đến mức nào, họ đam mê đến mức nào với ý tưởng mà họ dự định sẽ theo đuổi. Tất cả những nhà đầu tư khởi nghiệp ở giai đoạn đầu mà tôi biết đều chia sẻ một điều giống nhau: Họ sẽ đầu tư nếu nhìn vào mắt những người sáng lập có thể đọc được niềm khát khao, ý chí để có thể biến những ý tưởng của họ thành sự thật.

Những ý tưởng độc đáo cũng là điều quan trọng, nhưng tôi thấy con người quan trọng hơn nhiều. Sau đó tôi sẽ cân nhắc đến cơ hội thị trường, độ lớn của nó và sự liên quan giữa lĩnh vực tham gia với năng lực cá nhân của đội ngũ sáng lập. Tôi đặt cược niềm tin của mình vào con người, với những tham vọng của họ. Hầu hết những gì tôi học được sẽ chia sẻ với họ, đơn giản vì tôi thường thất bại hơn là thành công trên hành trình tham gia vào khởi nghiệp.

Xin cảm ơn ông. 

Kiên Chinh thực hiện

Nguồn: Tia Sáng

 

Advertisements

Trường đại học – Trung tâm của khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo

Nếu năm 2016 là năm thể hiện quyết tâm cao nhất ở cấp Chính phủ về định hướng phát triển thúc đẩyNếu năm 2016 là năm thể hiện quyết tâm cao nhất ở cấp Chính phủ về định hướng phát triển thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, thì năm 2017 rất nên là năm các trường đại học thể hiện vai trò tiên phong của mình để thực hiện sứ mệnh đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo (Entrepreneurship & Innovation) để cung cấp cho xã hội những tài năng được trang bị tư duy và kỹ năng cần thiết cho công cuộc đó. khởi nghiệp sáng tạo, thì năm 2017 rất nên là năm các trường đại học thể hiện vai trò tiên phong của mình để thực hiện sứ mệnh đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo (Entrepreneurship & Innovation) để cung cấp cho xã hội những tài năng được trang bị tư duy và kỹ năng cần thiết cho công cuộc đó.

Sáng tạo lại vai trò của trường đại học trong nền kinh tế tri thức- Đổi mới sáng tạo

Trong cuốn sách Innovation 2.0 – Reinventing University Roles in a Knowledge Economy (Đổi mới sáng tạo 2.0- Sáng tạo lại vai trò của trường đại học trong nền kinh tế tri thức) nghiên cứu về 12 trường hợp là những trường đại học đổi mới sáng tạo về công nghệ hàng đầu của Mỹ, hai tác giả Louis G. Tornatzky và Elaine C. Rideout đã chỉ ra năm vấn đề mà các trường đại học muốn đổi mới sáng tạo phải đối mặt. Nó cũng lý giải tại sao một số trường đại học đổi mới sáng tạo thành công, còn một số trường lại gặp khó khăn trong đổi mới sáng tạo. Năm vấn đề đó là (1) Văn hóa của trường đại học, (2) Vai trò của lãnh đạo, (3) Tinh thần khởi nghiệp, (4) Thiết lập mối quan hệ đối tác với doanh nghiệp và cộng đồng, (5) Chuyển giao công nghệ.

Trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp

Lấy câu chuyện hệ sinh thái khởi nghiệp làm trọng tâm, Founder Institute1 xây dựng một mô hình đi theo ba giai đoạn phát triển chính của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Theo đó, trường đại học đóng vai trò quan trọng trong cả ba giai đoạn chính: Hình thành ý tưởng; phát triển sản phẩm và tăng trưởng.

Trong giai đoạn đầu tiên, nhà trường mà cụ thể là giảng viên và các đơn vị hỗ trợ đóng vai trò là những người truyền cảm hứng, cung cấp thông tin, giới thiệu những thành công, điển hình, kinh nghiệm, hỗ trợ phát triển đội nhóm thông qua thúc đẩy hợp tác liên ngành trong sinh viên.

Khi doanh nghiệp có sản phẩm, dịch vụ, nhà trường cần cung cấp những kiến thức cơ bản cần thiết về kinh doanh như luật pháp, thuế, kế toán cho đến những hỗ trợ về nơi làm việc cho các nhà sáng lập doanh nghiệp.

Đối với giai đoạn thứ ba khi hệ sinh thái có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển tốt, trường đại học cần đóng vai trò tiên phong cung cấp những tài năng kinh doanh, nguồn lực chất lượng tốt với tư duy, kỹ năng và trải nghiệm hữu ích để doanh nghiệp tăng trưởng bền vững. Như vậy, trường đại học vừa trang bị cho người học những kỹ năng, kiến thức và trải nghiệm để sẵn sàng khởi nghiệp khi có hướng đi đổi mới sáng tạo thực sự vừa thực thi tốt vai trò của mình trong cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.

Nếu cách tiếp cận về vai trò trường đại học trong nền kinh tế nhấn vào yếu tố nội lực của trường đại học để đổi mới sáng tạo, thì cách tiếp cận về vai trò của trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp cho thấy tính hiệu quả khi đưa sản phẩm dịch vụ từ trường đại học ra bên ngoài và thương mại hóa. Trong khi cách tiếp cận thứ nhất chỉ rõ, để chuyển giao tốt sản phẩm của mình ra bên ngoài, các trường đại học cần thúc đẩy đổi mới sáng tạo mạnh mẽ và hợp tác với khu vực tư nhân, cách tiếp cận thứ hai nhấn mạnh vai trò của trường đại học rất lớn trong truyền cảm hứng, hỗ trợ thẩm định ý tưởng và phát triển đội nhóm trong các trường đại học. Cả hai cách tiếp cận đều toát lên những điểm chính về vai trò của trường đại học trong đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp: (1) Tinh thần doanh nhân và truyền cảm hứng; cung cấp nhân lực chất lượng cao (2) Hợp tác với doanh nghiệp và nắm bắt nhu cầu thị trường. Từ đó có thể thấy, một số yếu điểm rõ nhất của các trường đại học Việt Nam hiện nay như sau:

Nguồn nhân lực và khoảng cách giữa nhà trường và thị trường

Cách đây 20 năm, House Care – một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sửa chữa mọi thiết bị, đồ đạc trong một ngôi nhà từng rất thành công trên thị trường vì sản phẩm dịch vụ được người tiêu dùng đón nhận, mô hình kinh doanh được vận hành trơn tru hiệu quả do những người quản lý đều có kinh nghiệm, trải nghiệm trong và ngoài nước, nhưng công ty không thể lớn hơn quy mô 40 người. Lý do rất đơn giản: không thể đào tạo theo chuẩn đối với người lao động do các trường gần như đều đào tạo lý thuyết, việc chuẩn hóa nhân sự không thể thực hiện được, chi phí đào tạo lại quá lớn. Công ty buộc phải ngừng kinh doanh không phải vì không có lãi mà nhận thấy rằng, nếu tiếp tục duy trì, mô hình sẽ không thể lớn lên được. 20 năm sau, trong thời đại công nghệ như vũ bão, nhiều doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ phát triển được những sản phẩm tốt, có tiềm năng bước chân ra thị trường nước ngoài, nhưng tìm kiếm nhân sự marketing, tài chính, nhân sự trở thành vấn đề đau đầu nhất của chủ doanh nghiệp. Sinh viên ra trường vừa thiếu vừa yếu kỹ năng kinh nghiệm, ngoại ngữ thực hành yếu. Không tìm được người đáp ứng nhu cầu, doanh nghiệp dậm chân tại chỗ và rất khó có bứt phá.

Câu chuyện của 20 năm và bây giờ có một điểm tương đồng: Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đôi khi không chết, nhưng không thể lớn được vì không có những con người tài năng và phù hợp để phát triển mô hình kinh doanh ở những giai đoạn mới. Điều đó chứng minh các trường đại học đang không nắm bắt chặt chẽ xu hướng của thị trường lao động để từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường. Trong tương lai không xa, khi ASEAN trở thành thị trường không biên giới, luồng lao động tự do di chuyển từ các quốc gia Đông Nam Á khác đến Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều lựa chọn hơn về nguồn nhân lực nhưng nhân lực Việt Nam có nguy cơ thua ngay trên sân nhà. Khi đó, bản thân các trường đại học và những quyết sách về đào tạo sẽ không thực thi được sứ mệnh phục vụ xã hội của mình. Thậm chí, thiếu động lực đổi mới sáng tạo, các trường đại học có nguy cơ bị mua lại, thâu tóm sáp nhập một khi thị trường giáo dục có những độ mở nhất định. Đó là câu chuyện của chiến lược tồn tại của các trường đại học trong một hai năm tới, bởi lẽ là một cấu phần của nền kinh tế, trường đại học cũng nằm trong không tránh khỏi áp lực cạnh tranh.

Động lực đổi mới sáng tạo từ giảng viên

Trong một bài phân tích lý do tại sao, trong lòng châu Âu, nước Đức được coi là một trong những đất nước đổi mới sáng tạo bậc nhất vẫn đặt ra câu hỏi, nước Đức học gì từ Silicon Valley, một trong số những câu trả lời là “Ở Stanford, không giáo sư kinh tế nào mà lại không đặt chân vào lĩnh vực kinh tế, họ có thể tự lập một startup hay tham gia với tư cách cố vấn”. Ngẫm lại Việt Nam, sự kết nối lỏng lẻo giữa nhà trường và thị trường đang khiến giảng viên – gạch nối quan trọng giữa nhà trường và doanh nghiệp – thiếu đi sự tiếp xúc thực tiễn, số ít vừa tham gia giảng dạy vừa kinh doanh hoặc tư vấn khởi nghiệp, phần đông hơn hiểu biết về kinh doanh chung chung và rất khó đưa ra những định hướng tốt cho sinh viên về vấn đề thực tiễn cần giải quyết trong kinh doanh. Cũng chính vì thiếu sự tương tác với thị trường và kinh doanh thực tiễn, việc giảng viên truyền cảm hứng để sinh viên khởi nghiệp và hỗ trợ kết nối các nguồn lực để các ý tưởng kinh doanh trong sinh viên có thể phát triển vươn xa không hiệu quả. Đó là chưa kể đến, việc cải tiến giáo trình giảng dạy diễn ra chậm chạp, đang đẩy nhà trường, giảng viên vào thế “không nói chung một ngôn ngữ với thị trường”. Chẳng hạn, trào lưu khởi nghiệp tinh gọn được đào tạo tại rất nhiều trường trên thế giới thì hiện nay mới lác đác được đưa vào một số trường đại học ở Việt Nam từ nỗ lực ban đầu của dự án Đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam Phần Lan (IPP).


Chỉ khi lợi ích của cả người học và người dạy nhận được là ngoài lương thì mới thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Có nhiều cách lý giải cho sự chậm trễ này, song trong bài viết, chúng tôi muốn nhấn mạnh quan điểm về kỳ vọng đầu ra là một trong những nguyên nhân cốt lõi. Quan điểm này được Jan-U. Sandal – một giáo sư nổi tiếng người Na Uy nghiên cứu về Đổi mới sáng tạo, người cố vấn cho rất nhiều quyết sách về giải quyết nạn thất nghiệp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở châu Âu giới thiệu. Trong một xã hội, nếu lợi ích của người đào tạo và lợi ích đầu ra của việc học hành chỉ là LƯƠNG, hay nói một cách dễ hiểu là cả người học và người dạy đều ở một trạng thái tĩnh, người dạy mong dạy để kiếm đồng lương để ổn định, người học cũng chỉ mong học xong ra có đồng lương, thì việc dạy và học đơn thuần chỉ là chuyển giao tri thức. Bằng nhiều ngôn từ khác nhau, người ta có thể gọi đây là tình trạng lười biếng, sự cam phận, mong muốn ổn định, hoặc sự bảo thủ. Đó là sự bất động. Động cơ LƯƠNG đang giết chết sự sáng tạo trong giáo dục và hủy hoại sự năng động sáng tạo của nền kinh tế và của cả xã hội.

Nếu trong trường hợp một giảng viên được lợi vật chất ngoài lương “profit” từ sự đổi mới phương pháp dạy của mình hoặc một sinh viên đổi mới cách học mà kiếm được lợi vật chất ngoài mục đích kiếm đồng lương, tức là sự đổi mới sáng tạo diễn ra từ một phía, quá trình này gọi là “bán tĩnh”, tức là chỉ một bên hưởng lợi.

Chỉ khi cả hai cùng hưởng lợi và đặt việc dạy và học cao hơn mục tiêu chỉ kiếm đồng lương ổn định, khi đó mới tồn tại mối quan hệ chia sẻ tri thức để cùng hưởng lợi, hợp tác và đổi mới sáng tạo một cách năng động vì những “profit” lớn hơn. Lúc này những lợi ích về mặt vật chất không còn là duy nhất.

Hợp tác với doanh nghiệp

Một trong những lý do khiến chi phí khởi nghiệp ở nhiều thành phố lớn trên thế giới thấp và có khả năng cạnh tranh là do các trường đại học mạnh dạn sử dụng hết công suất không gian trống của mình để hợp tác với khu vực tư nhân. Mục đích của việc này là vừa để làm nơi ươm mầm cho các dự án kinh doanh đổi mới sáng tạo tiềm năng, vừa là nơi hút những tài năng đến để tăng trải nghiệm cọ xát với môi trường kinh doanh thực tiễn cho sinh viên trong trường. Hiện nay ở Việt Nam đã có một số trường đại học đang tự phát triển những vườn ươm riêng và dành quỹ đất cho việc ươm mầm, đó là một tín hiệu tốt. Tuy vậy, tư duy tự làm khiến các trường đại học cáng đáng tất cả các nội dung trong việc ươm mầm các dự án khởi nghiệp tiềm năng mà thiếu vắng sự tham gia của các doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, các đơn vị chuyên nghiệp đang đặt ra nhiều vấn đề. Ở Việt Nam, việc hợp tác mới bắt đầu manh  nha, ví dụ BKHoldings – một công ty trong lòng Đại học Bách khoa Hà Nội hợp tác với UP- Coworking Space để phát triển không gian làm việc chung BKHUP là một ví dụ.

Tuy nhiên, nếu các tập đoàn tham gia vào phát triển hạ tầng cho các trường đại học chỉ để thu hút nhân lực và phục vụ mục tiêu marketing – coi sinh viên, giảng viên như những khách hàng tiềm năng là chưa đủ. Đại học và khu vực tư nhân cần hợp tác theo chiều sâu hơn để thúc đẩy đổi mới sáng tạo dựa trên thế mạnh của cả hai bên, đưa nhà trường đến gần hơn với những vấn đề của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng đầu ra cho những sản phẩm nghiên cứu của trường. Tất nhiên, khi nói đến nỗ lực hợp tác, cũng không thể không kể đến những khó khăn từ cơ chế quản lý các trường đại học hiện tại đang phải đối mặt. Ví dụ, trong khi ở Vương Quốc Anh: nhiều trường đại học thành lập các công ty (sở hữu một phần hoặc toàn bộ) để đầu tư nghiên cứu, thực hiện thí nghiệm, sản xuất thử, khai thác quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích từ việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu thì việc phát triển các công ty trong trường đại học ở Việt Nam mới dừng ở mức thí điểm. Việc đặt hàng và hợp tác từ phía các doanh nghiệp khó có thể diễn ra suôn sẻ nếu không có cơ chế thuận lợi cho thúc đẩy cho việc hợp tác này.

Trường đại học, một chủ thể quan trọng của khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo sẽ phát huy được mạnh mẽ thế mạnh và thực thi sứ mệnh của mình hiệu quả khi ở tầm vĩ mô, các nhà quản lý nhìn nhận ra vấn đề đổi mới sáng tạo và cơ chế chính sách cho đổi mới sáng tạo ở trường đại học là nhân tố sống còn cho phát triển một xã hội đổi mới sáng tạo và chủ động sáng tạo giá trị. Khi đó, bản thân các trường chủ động nâng cao nội lực thông qua quyết tâm thay đổi, đặt đổi mới sáng tạo vào nhiệm vụ trọng tâm để tự đổi mới chính mình và xác định kỳ vọng đầu ra một cách rõ ràng minh bạch, bằng chiến lược hợp tác mạnh mẽ và hiệu quả với khu vực tư nhân và thị trường.

Tác giả: Nguyễn Đặng Tuấn Minh. Quản lý & Đồng sáng lập KisStartup.
—————–
Tài liệu tham khảo:
Silicon Valley hơn Đức ở điểm nào? Nguồn: http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Silicon-Valley-hon-Duc-o-diem-nao—10131
Innovation 2.0 – Reinventing University Roles in a Knowledge Economy. http://www.innovation-u.com/InnovU-2.0_rev-12-14-14.pdf
Liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và liên hệ với Việt Nam: Nguồn: http://nistpass.gov.vn:81/tin-chien-luoc-chinh-sach/1241-lien-ket-giua-truong-dai-hoc-va-doanh-nghiep-kinh-nghiem-quoc-te-va-lien-he-voi-viet-nam.html

1 Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp được thành lập năm 2007, có văn phòng ở 90 thành phố trên thế giới với tỉ lệ các doanh nghiệp tốt nghiệp vẫn hoạt động đến nay là 89%.

Hệ sinh thái khởi nghiệp rút gọn

Gần đây khi cụm từ khởi nghiệp trở thành sốt trên các diễn đàn, mặt báo, trong chương trình hành động và chính sách của rất nhiều cơ quan, tổ chức, thì đi kèm với nó là những phân tích về thực trạng non kém của hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam và những nỗ lực nhằm phát triển nó. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một khung tham chiếu về cấu phần của hệ sinh thái khởi nghiệp do Founder Institute (Mỹ) đưa ra như một bản thử nghiệm và mang tính chất tham khảo. Khung tham chiếu này cho thấy bức tranh chung của khởi nghiệp qua các giai đoạn, kèm theo đó là những đơn vị, tổ chức đang hỗ trợ hoặc đóng góp vào sự phát triển của khởi nghiệp tương ứng với từng giai đoạn đó.

1. Các giai đoạn hỗ trợ startup

IDEA-STAGE (giai đoạn lên ý tưởng)

Ở giai đoạn này, các bạn trẻ/doanh nhân tương lai sẽ được truyền cảm hứng, được đào tạo hoặc học những kiến thức, thực hành, phát triển kỹ năng và thẩm định ý tưởng cũng như học cách xây dựng đội nhóm và bước đầu phát triển sản phẩm.

Trong giai đoạn này, ba nội dung quan trọng được đề cập là:

Ai đang truyền cảm hứng để các bạn chọn con đường khởi nghiệp (báo chí, truyền thông, trường đại học, hay chính là các sự kiện mang tính truyền cảm hứng từ những doanh nhân thành đạt?)

Ai đang đóng vai trò giáo dục đào tạo để các bạn được trang bị những kỹ năng, thực hành và phát triển ý tưởng của mình? (ở đây, không chỉ có vai trò của các trường học mà còn có cả những trường và công ty đào tạo kinh doanh v.v).

Ai đang hỗ trợ các bạn thẩm định ý tưởng? Việc thẩm định ý tưởng đòi hỏi bạn phải có một đội, và những nguồn lực, vậy sự kiện nào hay tổ chức nào đang giúp bạn tìm được thành viên nhóm và cùng nhau triển khai dự án?

he sinh thai khoi nghiep rut gon

LAUNCH-STAGE (giai đoạn tung sản phẩm ra thị trường)

Ở giai đoạn này, các doanh nhân sẽ bước đầu xây dựng và chính thức hóa công ty, phát triển sản phẩm, lấy phản hồi của khách hàng để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo.

Launch Stage gồm 3 bước:

Bắt đầu: cần có kiến thức về luật pháp, tài chính và chỗ ngồi cho startup. Vậy ai đang cung cấp những dịch vụ chuyên sâu này?

Phát triển: Việc chính thức phát triển công ty đòi hỏi hình thành hệ thống kế toán, nhân sự (ở cấp độ đơn giản), và sự ươm mầm từ các chương trình vườn ươm và cố vấn khởi nghiệp

Tung sản phẩm ra thị trường: sự xuất hiện của các chương trình tăng tốc khởi nghiệp, cố vấn hoặc cấp vốn mồi đóng vai trò quan trọng cho sự bùng nổ của startup. Những sự kiện kết nối, hướng dẫn startup thuyết trình, gặp gỡ nhà đầu tư đóng vai trò hết sức quan trọng với startup.

GROWTH-STAGE (giai đoạn tăng trưởng)

Ở giai đoạn này, các khởi nghiệp chứng tỏ được bản thân, được cộng đồng ghi nhận và mở rộng quy mô. Đây chính là giai đoạn cần đến các nguồn vốn hỗ trợ, đầu tư thiên thần, đầu tư mạo hiểm và hỗ trợ networking.

Khi đã được ghi nhận bởi thị trường, startup muốn tiến những bước xa hơn phải thiết lập quan hệ tốt hơn với các nhà đầu tư, tìm kiếm các nhà sáng lập mới để bổ sung vào đội ngũ. Những sự kiện, mạng lưới và tổ chức hỗ trợ kết nối nhà đầu tư đóng vai trò sống còn trong giai đoạn này. Một môi trường có sẵn những nhà đầu tư chủ động tìm đến startup thực sự sẽ là cơ hội lớn cho các startup và tiết kiệm nguồn lực cho họ rất nhiều. Ngược lại, khi thị trường còn thiếu vắng những nhà đầu tư chuyên nghiệp hoặc sự thiếu hiểu biết xuất phát từ cả hai bên thì cảnh tượng startup gõ cửa nhà đầu tư sẽ vẫn tồn tại và chứng tỏ một thị trường còn đang ở giai đoạn sơ khai.

Ở giai đoạn cấp vốn, không ai khác nhà đầu tư thiên thần, các quỹ tài chính tín dụng vi mô và các quỹ đầu tư mạo hiểm là những người chơi và hỗ trợ chính cho các startup.

Vấn đề tăng trưởng đòi hỏi sự mở rộng về cả quy mô vật chất và nhân sự. Chỗ làm việc, con người, cơ cấu tổ chức đều cần có sự điều chỉnh. Câu hỏi đặt ra là ai trong hệ sinh thái khởi nghiệp đang hỗ trợ/cung cấp những dịch vụ về chỗ ngồi, hay chương trình tăng tốc phục vụ tăng trưởng? Đội ngũ tư vấn và huấn luyện viên cao cấp có sẵn hay không?

2. The Supporters (những người hỗ trợ)

Để mỗi bước đi của khởi nghiệp diễn ra suôn sẻ hơn, mọi hệ sinh thái khởi nghiệp đều cần những người hỗ trợ có đủ năng lực và nhiệt huyết.

EVANGELISTS (người truyền giáo)

Đó chính là những doanh nhân thành đạt, họ không chỉ mang sứ mệnh dẫn đường, truyền cảm hứng mà còn đóng vai trò khai sáng cho các startup nhờ những trải nghiệm trên thị trường họ đã có. Họ cũng là người đôi khi kéo các ý tưởng trở về mặt đất để các startup suy nghĩ thực tế hơn và lường trước những vấn đề khó khăn có thể gặp phải khi khởi nghiệp. Ở giai đoạn này, nhiều người nhấn mạnh câu chuyện thành công, song trên thực tế, việc khuyến khích chấp nhận thất bại và học từ thất bại cũng là một cách làm tốt để dần xây dựng một tư duy tích cực và đúng đắn trong khởi nghiệp

GOVERNMENT (chính phủ)

Các tổ chức công đóng vai trò quan trọng trong cuộc chơi khởi nghiệp, họ không chỉ tạo khung chính sách mà còn hỗ trợ các cộng đồng khởi nghiệp đặc biệt trong giai đoạn hai. Mặt khác, chính phủ không nên là người xây mà nên là người phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp.

TALENT (nhân tài)

Chẳng doanh nghiệp nào sống sót nếu thiếu đi những nhân tài. Không chỉ các trường đại học, viện nghiên cứu mà cả những nhà tuyển dụng đều cần thu hút và nuôi dưỡng nhân tài cho chính sự phát triển của mình. Đó có lẽ là lý do rất nhiều trường đại học đang phát triển những vườn ươm khởi nghiệp của riêng mình. Song trên thực tế, rất nhiều vấn đề được đặt ra ở Việt Nam, ví dụ, họ có xu hướng làm tất cả trong một, có nghĩa là tự xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp nhỏ ngay trong trường/đơn vị mình. Khả năng liên kết kém giữa các cấu phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp khiến năng lực của nhiều đơn vị không có sự cải thiện và chồng chéo, không tận dụng được thế mạnh của những đơn vị sẵn có trong hệ sinh thái.

3. Sản phẩm cuối cùng: Những câu chuyện thành công 

Để có một câu chuyện thành công cần rất nhiều thời gian. Sản phẩm của một hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh chính là những thành công của startup. Người lãnh đạo của những startup thành công rất nên trở thành người truyền giáo. Hãy quan sát trong hệ sinh thái khởi nghiệp những câu chuyện thành công để điền vào phần này trong khung hệ sinh thái khởi nghiệp.

Cuối cùng, thay vì một ai đó trong hệ sinh thái khởi nghiệp là người sẽ xây dựng nó, mỗi thành phần hãy nhìn vào vai trò và sự hiện diện của mình để làm tốt nhất những gì mình đang làm và chủ động hợp tác với những cấu phần khác. Đơn giản bởi vì, hệ sinh thái đồng nghĩa với sự tự nhiên và bền vững. Không ai xây hệ sinh thái của rừng Amazon, quy định kích cỡ của các loài cây, hay ra lệnh cây này phải che chở cho cây kia, nhưng trên thực tế, những cái cây sẽ tìm cách sinh tồn, hỗ trợ và cạnh tranh lẫn nhau. Những yếu tố đất, nước của hệ sinh thái thực sự có thể duy trì bởi nỗ lực của tất cả những cấu phần trong đó.

Tham khảo: http://fi.co/canvas_template

Tác giả: Nguyễn Đặng Tuấn Minh. Quản lý & Đồng sáng lập KisStartup

Nguồn: Tia Sáng

KisStartup_wordpress