Đại học tương quan với Hệ sinh thái Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo

Để thực hiện được vai trò là một cấu phần quan trọng và hỗ trợ cho sự phát triển của khởi nghiệp sáng tạo (KNST) và cũng chính là nơi sản sinh ra nhiều các nhà sáng lập KNST tài năng, các trường đại học phải đối mặt với nhiều thách thức. 


Trung tâm STEM của trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội. Ảnh: Ngô Hà.

Trước kia chúng ta hay nghe nói rằng thay đổi đến từ những áp lực như đối thủ cạnh tranh, thị trường biến động v..v. Tuy nhiên thực tế cũng chứng minh, cho dù áp lực có lớn, nhưng sự thay đổi chỉ có thể diễn ra khi chúng ta thấy mình cần phải thay đổi. Chính vì vậy, áp lực lớn nhất lại nằm ở chính nội tại của mỗi con người, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia. Sự tương tác với bên ngoài cho dù là cạnh tranh hay hợp tác cũng là giúp ta nhận rõ hơn những điểm yếu, điểm mạnh và nhu cầu đổi mới nội tại của chính mình. Đặt trường đại học là một phần của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trong mối tương quan với khởi nghiệp sáng tạo và các thành phần khác giúp trường đại học nhận rõ hơn những áp lực mình đang phải đối mặt và những cơ hội mà mình đang có.

Có một thực tế không thể phủ nhận, chúng ta đang chứng kiến những khó khăn trong tuyển sinh của nhiều trường đại học cao đẳng, chúng ta cũng đang chứng kiến nạn chảy máu chất xám từ trường đại học ra doanh nghiệp, ra nước ngoài và sự loay hoay của không ít các trường đại học để tìm ra cho mình một mô hình hoạt động mới, thích ứng và làm chủ sự thay đổi trong khi sáng tạo được giá trị và tạo nhiều tác động hơn. Từ những quan sát của mình, tác giả cho rằng, các trường đại học đang đứng trước ba áp lực lớn: (1) Áp lực định vị chính mình: xác định được giá trị, sự khác biệt và vai trò của mình trong bức tranh lớn từ đó xác định những kết nối với các thành phần khác nhau và giá trị mình tạo ra với họ; (2) Áp lực thu hút nhân tài và phát triển đội ngũ: Thu hút, nuôi dưỡng và phát triển nhân tài gồm sinh viên, cán bộ, giảng viên, học viên nói chung để thực hiện sứ mệnh của trường đại học (3) Áp lực tìm kiếm mô hình sáng tạo giá trị và tác động: Hiện thực hóa những điều trên bằng việc tìm kiếm và điều chỉnh mô hình hoạt động.

Những áp lực này đặt trong bối cảnh của mỗi trường sẽ giúp nhận ra những vấn đề nội tại khác nhau. Vì vậy, không thể không xác định những vấn đề cốt lõi của chính trường đại học trước khi đặt nó trong sự tương tác với hệ sinh thái khởi nghiệp. Các câu hỏi lớn đặt ra chính là sự tương tác với hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ giúp giải quyết gì hay phần nào cho những vấn đề mà trường đang gặp phải? Từ đó mới có thể trả lời câu hỏi nên làm gì?

1Định vị chính mình: Trường đại học ở đâu trong hệ sinh thái khởi nghiệp là một câu hỏi lớn, nhưng có lẽ câu hỏi tốt hơn chính là KNST giúp trường định vị lại chính mình như thế nào? Có hai nhà đầu tư của Nhật sau khi tiếp xúc với khoảng hơn 20 nhóm KNST băn khoăn hỏi tôi, tại sao chúng tôi chưa thấy một nhóm nào đi ra từ trường đại học? Có duy nhất một nhóm mà sáng lập còn đang học trong trường thì họ nói hầu như không biết gì đến hỗ trợ của trường đang có? Câu hỏi tiếp theo của họ chính là các trường đại học của Việt Nam hay ở Việt Nam có chương trình nào hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu của giảng viên, sinh viên, nghiên cứu viên không? Thực tế, trường đại học không thể làm tất cả mọi việc của hệ sinh thái khởi nghiệp. Sự ôm đồm tất cả mọi việc hay sự thờ ơ không làm gì đều có thể có những rủi ro tiềm ẩn. Nếu không tìm ra sự khác biệt của mình, giá trị riêng của mình, nói một cách khác là không xác định được phân khúc mình làm tốt nhất thì sẽ rất khó biết mình cần gì và nên kết nối với ai, việc nào trường nên làm và việc gì nên hợp tác. Al Reis, tác giả cuốn sách “Định vị – Cuộc chiến tâm trí” từng tổng kết “Cách tiếp cận cơ bản của định vị không phải là tạo ra cái gì đó mới hay khác đi mà thực chất là vận dụng những gì đó có trong đầu, kết nối lại những gì đã tồn tại sẵn ở đó” – Al Reis. Định vị mình trong hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ giúp định vị lại chính những khác biệt và giá trị của mình trong một bức tranh lớn.

2. Thu hút nhân tài:Ở khía cạnh nhân tài, tham gia vào cuộc chơi khởi nghiệp này, các trường được gì ngoài những phong trào phục vụ PR, marketing để tuyển sinh, giảm tỷ lệ bỏ học của sinh viên, hay giải quyết tỷ lệ thất nghiệp trong sinh viên? Không ít giảng viên tâm sự với chúng tôi rằng, khó khăn lớn nhất họ đang gặp phải là sinh viên thờ ơ với khởi nghiệp, điều này hàm chứa những khó khăn khi họ phải triển khai những hoạt động cần triển khai các chương trình khởi nghiệp tại trường. Thực chất, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc sinh viên thờ ơ với khởi nghiệp. Điều này là bình thường bởi chỉ có khoảng 5% dân số là trở thành doanh nhân nên giải pháp không thể nằm ở việc phải làm nhiều hoạt động để thúc đẩy phong trào khởi nghiệp. Nếu các trường lựa chọn tập trung vào con số 5% sinh viên, thì họ đang ở đâu? Làm thế nào để tìm thấy họ và hỗ trợ họ một cách tốt nhất? Còn nếu trường định vị mình là những người trang bị cho cả các sáng lập startup và nhân sự tương lai của họ thì việc của trường là trang bị kiến thức và thúc đẩy tinh thần sáng tạo, nghiên cứu khoa học.

3. Tìm kiếm mô hình: Mô hình hỗ trợ KNST không thể tách rời khỏi mô hình vận hành của chính trường đại học. Không một mô hình nào tồn tại vĩnh viễn bởi nó sẽ bộc lộ những bất cập. Nếu tìm kiếm mô hình hoạt động tối ưu hơn và điều chỉnh là một vấn đề trường đang gặp phải thì mô hình vườn ươm cũng vậy. Không thể có một công thức chung như phần lớn các trường đại học đang thực hiện là tổ chức cuộc thi toàn trường, rồi chọn ý tưởng, đưa vào ươm tạo là xong. Chỉ khi vườn ươm ra đời từ nhu cầu thực tiễn của trường trong việc thúc đẩy những gì mình đang sẵn có và có đội ngũ cho hoạt động một cách bài thì mới có thể tìm ra những mô hình hoạt động hiệu quả. Rất ít những vườn ươm tìm ra được hướng đi riêng từ nhu cầu thực tiễn, các thế mạnh vượt trội của nhà trường kết hợp với sự tương tác với hệ sinh thái khởi nghiệp như Vườn ươm công nghệ FuturiX của HUTECH. Nói một cách khác, vườn ươm chỉ là một trong số những biểu hiện của việc tìm ra mô hình hoạt động tối ưu trong sự tương tác với hệ sinh thái khởi nghiệp. Chỉ khi nào xác định được nhu cầu của chính mình, thế mạnh của chính mình thì mới có thể tìm ra những mô hình, cách thức hiệu quả.

***

Khởi nghiệp sáng tạo là một cơ hội giúp các trường nhận ra nhu cầu đổi mới của chính mình ở nhiều góc độ khác nhau, nhiều cấp độ khác nhau. Cũng không quên rằng năm điều một trường đại học muốn ĐMST phải đối mặt đó là (1) Văn hóa của trường đại học, (2) Vai trò của lãnh đạo, (3) Tinh thần khởi nghiệp, (4) Thiết lập mối quan hệ đối tác với doanh nghiệp và cộng đồng, (5) Chuyển giao công nghệ. Đây là kết quả nghiên cứu của hai tác giả Louis G. Tornatzky và Elaine C. Rideout của cuốn Innovation 2.0 – Reinventing University Roles in a Knowledge Economy (ĐMST 2.0- Sáng tạo lại vai trò của trường đại học trong nền kinh tế tri thức). Nó cũng lý giải tại sao một số trường đại học ĐMST thành công, còn một số trường lại gặp khó khăn. □

Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo vùng: Ấn tượng và khoảng trống

Trước khi tham gia hỗ trợ chuyên môn cho Techfest vùng cùng với Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp Khoa học công nghệ, thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, có những câu hỏi luôn quanh quẩn trong đầu chúng tôi:

Liệu định hướng mô hình Silicon Valley có thực sự phù hợp với những địa phương này? Tìm đâu ra những nhóm khởi nghiệp theo tiêu chí nhân rộng được và mở rộng được? Nếu có khởi nghiệp sáng tạo thì đó là những mô hình như thế nào? Hệ sinh thái khởi nghiệp địa phương có gì để hỗ trợ họ?

Những câu hỏi thôi thúc chúng tôi tham gia vào cuộc hành trình từ tháng 9, tháng 10, tháng 11 qua Techfest vùng Đông Nam Bộ, Techfest vùng ĐBSCL, Techfest vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Những nhận định dưới đây được rút ra từ những quan sát, học hỏi và trải nghiệm qua cuộc gặp gỡ với hàng trăm nhóm khởi nghiệp, có cả những ấn tượng, những câu hỏi bỏ ngỏ và khoảng trống cần phải điền vào.

Ấn tượng

Sáng tạo từ yêu cầu của cuộc sống: Nếu ở những thành phố lớn, đặc trưng bởi nhu cầu đa dạng và nhóm trung lưu thu nhập đang nổi trở thành điểm hút với các dự án khởi nghiệp sáng tạo theo mô hình sáng tạo mang tính sao chép các mô hình từ nước ngoài, mang về bản địa hóa và phục vụ cho thị trường, thì điều đáng ngạc nhiên ở những dự án nổi bật trong khởi nghiệp sáng tạo ở các vùng là sự sáng tạo cũng mang tính địa phương, phục vụ đầu tiên cho chính thị trường bản địa, đi ra từ những tài nguyên của địa phương, xuất phát từ chính những thách thức của địa phương, không ít trong số này hoàn toàn nhân rộng được và lặp lại được. Ví dụ như Giải nhất của Techfest vùng Đông Nam Bộ là dự án Máy lọc nước biển thành nước ngọt cho ngư dân tàu đánh bắt xa bờ (nhóm tác giả Trần Thái Sơn của Bà Rịa-Vũng Tàu). Từ lâu, vấn đề có nước ngọt cho các tàu đánh bắt xa bờ luôn chưa thực sự được giải quyết thấu đáo. Chia sẻ về việc phát triển sản phẩm, anh Trần Thái Sơn của Bà Rịa Vũng Tàu kể rằng, ở nhà anh gần như không sót một loại máy nào từng có trên thế giới để lọc nước mặn thành nước ngọt. Nhưng với những khó khăn đặc thù, luôn cần những giải pháp đặc thù. Giải pháp máy lọc nước của nhóm tác giả tiết kiệm được chi phí mua máy, chi phí và công sức hỗ trợ trong trường hợp sự cố ngoài khơi, và có thể khắc phục ngay khi đang ở ngoài biển.

Hay xuất phát từ lợi thế về du lịch và mô hình Bungalow (nhà gỗ) ở Đà Lạt trở thành một điểm nhấn trong trải nghiệm của khách du lịch do hướng tới thiên nhiên, bảo vệ môi trường, sản phẩm “Nhà gỗ lắp ghép và đồ nội thất thông minh” của Công ty TNHH Kết nối nghệ thuật 24 (Lâm Đồng) ra đời để giúp cho việc thi công, lắp đặt nhanh hơn, tiết kiệm nhiều chi phí hơn, cơ động trong việc tháo rời và di chuyển được khắp mọi nơi. Sản phẩm sáng tạo này không chỉ có tiềm năng phục vụ tại thị trường Đà Lạt, mà thực chất, hoàn toàn có thể nhân rộng ra ở những nơi có điều kiện tự nhiên phù hợp và nhu cầu phát triển Bungalow cho du lịch nếu có một chiến lược kinh doanh và marketing hiệu quả, nếu không muốn nói là có thể tiêu thụ ở thị trường khu vực.

Mô hình nhà gỗ Bulgalow đang được nhân rộng ở Đà Lạt.

Một ví dụ khác, xuất phát từ những quan sát tại địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi những người dân sống với dừa nhưng chưa thực sự làm giàu được với dừa. Sản phẩm giấy dừa Bến Tre của Công ty TNHH Escoco Vietnam (Bến Tre), sản xuất giấy từ xơ tàu dừa, sử dụng làm giấy mỹ thuật, bao bì và tận dụng được nguồn cung vật liệu dồi dào của địa phương đã giành ngôi vị quán quân Techfest ĐBSCL. Cũng trong những nhóm dự án ấn tượng nhất tại Techfest Đồng bằng sông Cửu Long, một dự án ống hút làm từ nước dừa tập trung giải quyết vấn đề rác thải nhựa từ ống hút và nhanh chóng thu hút sự chú ý của cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nếu tận dụng tốt nguồn lực địa phương, những thế mạnh đặc biệt của địa phương và giải quyết những vấn đề đang bức xúc, chắc chắn những sản phẩm này có cơ hội vươn xa hơn trên thị trường Việt Nam và quốc tế.

Nếu tận dụng tốt nguồn lực địa phương, những thế mạnh đặc biệt của địa phương và giải quyết những vấn đề đang bức xúc, chắc chắn những sản phẩm này có cơ hội vươn xa hơn trên thị trường Việt Nam và quốc tế.

Tác động xã hội là một phần của mô hình kinh doanh: Nếu trước đây, những tác động chỉ được nhắc đến ở những dự án xã hội, hoặc điểm xuyết trong các bài thuyết trình về mô hình kinh doanh sáng tạo, thì điểm đáng mừng là mặc dù khái niệm “đổi mới sáng tạo xã hội” còn mới mẻ ở Việt Nam, nhưng thực chất, tinh thần kinh doanh nhằm tạo tác động tích cực cho xã hội bên cạnh tạo lợi nhuận đã nằm sẵn trong tư duy của những doanh nhân sáng tạo này. Chủ dự án giấy dừa Bến Tre chia sẻ rằng, chị mong muốn mang lại một mô hình mà mỗi người phụ nữ, hộ gia đình tham gia vào cung cấp nguồn nguyên liệu dừa nước cho chị có thêm một kế sinh nhai trong thời gian rảnh rỗi và tận dụng nguồn tàu dừa nước bỏ đi của địa phương. Với phương thức sản xuất này, chúng ta sẽ bớt phải đốn cây để làm giấy và chị có thể xây dựng một hệ sinh thái bền vững cho sản xuất cũng như thu nhập tốt hơn của người dân xứ dừa. Hay giải pháp máy lọc nước biển thành nước ngọt được nêu ở trên không chỉ được các ngư dân chào đón mà còn được các đơn vị vũ trang làm việc trên biển sử dụng để giải quyết cơ bản những khó khăn về nước ngọt.

Dự án “Giấy dừa Bến Tre” nhằm tận dụng nguồn dừa nước bỏ đi của Công ty TNHH Escoco Vietnam (Bến Tre) đoạt giải nhất Techmart - Techfest Mekong 2019.

Dự án “Giấy dừa Bến Tre” nhằm tận dụng nguồn dừa nước bỏ đi của Công ty TNHH Escoco Vietnam (Bến Tre) đoạt giải nhất Techmart – Techfest Mekong 2019.

Trên thực tế thành công của những mô hình khởi nghiệp sáng tạo xã hội như EthnoTeck Bags hay Maria’s bag, bên cạnh việc bán sản phẩm có giá trị gia tăng cao, mới lạ, độc đáo, mang các đặc trưng bản địa, việc phát triển một hệ sinh thái cho sản phẩm, tạo ra những giá trị cho nhiều bên liên quan trong toàn bộ chuỗi giá trị đang nhận được sự hưởng ứng của cộng đồng do sự bền vững của cách tiếp cận.

Sự xuất hiện lẻ tẻ của các doanh nghiệp lớn tại các Techfest vùng được lý giải bởi nhiều nguyên nhân: không ít trường hợp xuất phát phát từ suy nghĩ khởi nghiệp sáng tạo vẫn còn là câu chuyện phong trào, chưa phải mối bận tâm của doanh nghiệp lớn.

Sự tham gia tích cực của trường đại học: Ở Techfest vùng, có thể thấy sự tham gia sôi động của các trường đại học. Hình ảnh những giảng viên hướng dẫn một nhóm sinh viên tham gia pitching trong cuộc thi không phải hiếm. Có những giải pháp thực sự tiềm năng đi ra từ trường đại học, gây ấn tượng bởi sự tâm huyết của cả thầy và trò và những giá trị nhân văn mà dự án mang lại cho chính cộng đồng của mình và cho xã hội. Có thể kể đến những dự án Sản xuất máy in 3D giá rẻ của Trường CĐ Cộng đồng Kon Tum với kỳ vọng sản xuất máy in giá rẻ phục vụ đào tạo trong các trường dạy nghề, hay Xử lý nước uống bền vững từ nguồn nước bị nhiễm mặn bằng công nghệ năng lượng Mặt trời VMD của các giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên tại Khoa Môi trường và Tài nguyên – Đại học Đà Lạt. Trong những năm vừa qua, nỗ lực đưa trường đại học vào trung tâm của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo bắt đầu đạt được những bước tiến nhất định trên cả nước, nhưng nếu nhìn vào hệ sinh thái hiện có ở những địa phương này, khi trường đại học đang chủ động tham gia vào hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, chứ không còn ở vị trí quan sát, thăm dò như nhiều tỉnh, thành phố khác, thì có thể tin rằng, họ sẽ sớm tìm ra những hướng đi cho riêng mình, vươn ra ngoài mô hình của Thung lũng Silicon.

Những khoảng trống

Tuy nhiên, hệ sinh thái khởi nghiệp ở các vùng còn khuyết đi những mắt xích quan trọng giúp thúc đẩy sự hình thành, phát triển của những doanh nghiệp, dự án khởi nghiệp sáng tạo.

Nhà đầu tư thiên thần: Số lượng các nhà đầu tư thiên thần của địa phương tham gia trực tiếp vào các hoạt động kết nối đầu tư và tìm hiểu về khởi nghiệp còn khiêm tốn và manh mún. Sự chủ động của nhà đầu tư thiên thần luôn đóng vai trò quan trọng ở những hệ sinh thái còn non trẻ. Để có thể đưa hoạt động đầu tư thiên thần thành một điểm đến thực sự tạo giá trị cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ở giai đoạn trứng nước, khi mà các hoạt động đầu tư mạo hiểm còn đứng ngoài cuộc, đòi hỏi nỗ lực từ chính địa phương và từ những nhà đầu mang tính dẫn dắt. Họ là những doanh nhân thành công, yêu thích sự sáng tạo và mong muốn đóng góp vào những sáng tạo ấy. Nguồn lực này ở địa phương không ai khác chính là các chủ doanh nghiệp trưởng thành tại địa phương, những người hiểu về tình hình địa phương và hiểu về những con người ở chính địa phương đó. Tuy nhiên, câu hỏi còn bỏ ngỏ là làm thế nào để thúc đẩy việc hình thành những nhóm nhà đầu tư như vậy để giảm thiểu rủi ro thay vì những hoạt động đầu tư tự phát, đơn lẻ?

Dịch vụ phát triển kinh doanh và tổ chức hỗ trợ thúc đẩy kinh doanh: Doanh nghiệp sở hữu công nghệ tốt, sản phẩm sáng tạo tại địa phương cũng đang phải đối mặt với những thách thức do chính sự chưa hoàn thiện của môi trường kinh doanh mang lại. Nhiều dự án “hồn nhiên” mang sản phẩm đi thi, đi triển lãm mà chưa hề đăng ký bảo hộ giải pháp hữu ích hay kiểu dáng công nghiệp. Những chương trình ươm tạo, tăng tốc chưa được thiết kế tốt để thúc đẩy sự phát triển của các dự án này lên cấp độ cao hơn, kiểm chứng thị trường ở mức độ lớn hơn và xây dựng đội nhóm chuyên nghiệp hơn. Sự thiếu vắng những dịch vụ phát triển kinh doanh chuyên nghiệp phi tài chính như thuế, luật, tài chính v..v. cũng như các chương trình tăng tốc, ươm tạo đang làm hạn chế đáng kể sự phát triển của những dự án hiện tại và có thể, sẽ khó thúc đẩy sự ra đời những dự án tiềm năng trong những năm tiếp theo một cách hiệu quả, bền vững dựa trên thế mạnh địa phương.

Sự tham gia của các doanh nghiệp lớn: Doanh nghiệp lớn trong vai trò người mua hàng, đối tác đặt hàng hay ươm tạo, tăng tốc nội bộ, đầu tư dường như là những khái niệm còn mới mẻ. Việc thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo dường như vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Sự xuất hiện lẻ tẻ của các doanh nghiệp lớn tại các Techfest vùng được lý giải bởi nhiều nguyên nhân: không ít trường hợp xuất phát phát từ suy nghĩ khởi nghiệp sáng tạo vẫn còn là câu chuyện phong trào, chưa phải mối bận tâm của doanh nghiệp lớn. Một vài doanh nghiệp xuất hiện vào phút chót trong những phiên kết nối đầu tư chia sẻ rằng, thời gian có hạn, mà thông tin thì đến chậm nên khó thu xếp. Còn nguyên nhân sâu xa hơn của khoảng trống này chính là thiếu sự kết nối, hợp tác và thông tin thông suốt giữa những cấu phần khác nhau của hệ sinh thái khởi nghiệp: các sở ban ngành với các tổ chức hiệp hội, các cơ quan và các đơn vị có liên quan đến khởi nghiệp. Khởi nghiệp sáng tạo là một phần không thể tách rời của hệ sinh thái và môi trường kinh doanh. Nó sẽ chỉ phát triển được khi môi trường đó trưởng thành từng ngày. Không có mô hình nào là hoàn hảo, chỉ có những nỗ lực phi thường của con người mới biến những nơi khô cằn thành cơ hội và tự biến mình thành hình mẫu cho những nơi có vấn đề tương tự mà thôi.

Tôi xin trích một câu trong lời giới thiệu cuốn sách “Vươn ra khỏi Thung lũng Silicon” của GS. Michael E. Goldberg kể về câu chuyện của Ohio đã tự mình tạo dựng mô hình riêng cho mình như thế nào từ những thách thức mà chính họ gặp phải cho đến những câu chuyện khác nhau trên thế giới đã tự phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp một cách sáng tạo như thế nào để thay cho lời kết: “Trong khi Thung lũng Silicon tự hào với danh tiếng đỉnh cao của hệ sinh thái khởi nghiệp thành công, các thuộc tính độc đáo và sự tập trung chính vào công nghệ thông tin khiến nó trở thành mô hình hạn chế cho các khu vực khác trên thế giới học tập. Thay vào đó, việc phát triển hệ sinh thái có thể được truyền cảm hứng từ những trở ngại, đấu tranh và thất bại mà Đông Bắc Ohio phải đối mặt, một khu vực bị áp lực bởi những thách thức kinh tế nhưng đồng thời nổi bật bởi sự khéo léo và quyết tâm của chính mình”.


Giải nhất của Techfest vùng Đông Nam Bộ là dự án “Máy lọc nước biển thành nước ngọt cho ngư dân tàu đánh bắt xa bờ”. “Máy lọc nước biển thành nước ngọt gồm nhiều bộ phận, theo đó nước biển sau khi bơm cấp vào máy sẽ được lọc bằng cụm màng lọc thô để loại bỏ chất bẩn cho ra nước biển sạch. Nước biển sạch sẽ đi qua một máy nén áp suất cao để đẩy qua màng lọc RO. Tại đây, muối và các tạp chất khác sẽ được lọc sạch để cho ra nước ngọt tinh khiết. Sản phẩm nước ngọt đầu ra của máy lọc nước biển này được Bộ Y tế chứng nhận đạt tiêu chuẩn nước uống”, theo anh Trần Thái Sơn, giảng viên trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu, tác giả của Dự án.

Đi tìm lợi thế cạnh tranh khó bắt chước nhất

Nguồn: Tia Sáng

CHUỖI BÀI VIẾT  “THẤT BẠI TINH GỌN”- Nguyễn Đặng Tuấn Minh (Quản lý & Đồng sáng lập KisStartup).

Có ai đó nói rằng, khi bạn thành công thì mọi thứ trong quá trình bạn tạo ra nó đều có thể trở thành bài học thành công cho những người khác, nhưng khi bạn thất bại, chắc chắn không thể mọi việc bạn làm đều sai, nhất định phải có những vấn đề mang tính căn bản và sai nhiều hơn những phần khác. Chúng tôi quyết định giới thiệu chuỗi bài viết “Thất bại tinh gọn” vì trong suốt quá trình làm việc với khởi nghiệp sáng tạo, tôi nhận thấy, rất nhiều các chủ doanh nghiệp, các nhà khởi sự kinh doanh luôn tràn trề năng lượng để bắt đầu lại, mọi thất bại đều dần quen nhưng lại rất ít ngồi một cách nghiêm túc để nhìn nhận lại thất bại. Truyền thông đưa quá nhiều câu chuyện thành công với những kết thúc có hậu, nhưng lại ít người dùng lăng kính khác để nhìn nhận về thất bại đó và để học ra những điều có ích cho hoặc thành công, hoặc thất bại lần sau và cho cả những người khác.

Chúng tôi cũng không phải là những người đầu tiên thúc đẩy tinh thần học hỏi từ thất bại tại Việt Nam. Chuỗi sự kiện FailSmart của hai sáng lập Phan Đình Tuấn Anh và Nguyễn Tiến Trung trong suốt hơn hai năm qua với sáu chương trình đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của cộng đồng để học hỏi nhiều hơn từ chính thất bại của mình và người khác. Chuỗi bài viết “thất bại tinh gọn” sử dụng cách tiếp cận khác để học hỏi từ thất bại. Với phương pháp của Khởi nghiệp tinh gọn và những công cụ có liên quan chúng tôi sẽ sử dụng để phân tích những mô hình kinh doanh theo đuổi đổi mới sáng tạo này và chỉ ra điểm mấu chốt trong mô hình kinh doanh dẫn đến thất bại.

Chúng tôi cũng may mắn được tiếp cận với những trường hợp nghiên cứu mà người chủ doanh nghiệp sẵn sàng cởi mở để chia sẻ về những thất bại và giúp chúng tôi có những thông tin chính xác để mổ xẻ thất bại đó. Trong một số trường hợp, chủ doanh nghiệp chấp nhận thất bại chính là do anh/chị đã có tiếp xúc với khởi nghiệp tinh gọn. Số khác thì không hẳn như vậy. Song điểm chung trong mong muốn của họ cũng như của chúng tôi không phải là để bạn đừng lặp lại những thất bại như của họ vì sẽ không có một câu chuyện nào giống câu chuyện nào. Chỉ mong bạn hãy tham khảo cách tiếp cận này để soi chiếu lại những gì mình đang làm và từ đó viết nên những thất bại đáng học với quy mô nhỏ của mình để tiến đến những thành công lớn trong tương lai.


Trên thị trường, cũng đang có nhiều công ty cung cấp giải pháp toàn diện trồng rau trên sân thượng.

Đi tìm lợi thế cạnh tranh khó bắt chước nhất

Tháp trồng rau thông minh là một dự án mới của Phan Xuân Biên, đồng sáng lập của một công ty đã đi vào hoạt động trong mảng thời trang. Xuất phát từ nhu cầu có rau sạch cho cháu nhỏ trong gia đình, Biên quyết định tạo ra một mô hình trồng rau sạch tại nhà và phát triển nó thành một công ty mới.

Mô hình của Biên là một tháp trồng rau được thiết kế nhỏ gọn vừa với mọi không gian trong nhà, dễ dàng tháo lắp di chuyển, có sẵn dụng cụ và phân bón, đồng thời tối ưu hóa công sức và thời gian chăm sóc. Một giải pháp toàn diện như vậy vừa giải quyết được vấn đề an toàn thực phẩm đang nhức nhối, vừa nắm bắt được trào lưu và tâm lý của những người dân thành thị muốn trồng rau “tự cung tự cấp” cho gia đình trên ban công và sân thượng nhà mình.

Biên nhanh chóng có khách hàng đặt, kể cả các đại lý nông nghiệp từ các tỉnh ngoài và phía cung cấp vật tư để sản xuất cũng ổn định. Thậm chí dự án còn có người mở lời đầu tư. Với những bằng chứng rõ ràng như vậy, không có lý do gì Biên không tin tưởng vào sự thành công của mình nhưng anh đã đóng cửa dự án sau khi trăn trở về khả năng nhân rộng của nó.

Xây dựng – Đo lường – Học hỏi dựa trên phát triển khách hàng, mô hình tinh gọn và liên tục xem lại mô hình kinh doanh

Với mong muốn trả lời chính xác câu hỏi có nên tiếp tục dự án hay không trước khi thực sự đầu tư toàn bộ thời gian, công sức và nhận vốn, chủ dự án đồng ý cùng chúng tôi tiến hành cùng một số bước xây dựng, đo lường, học hỏi để hoàn thiện mô hình kinh doanh tinh gọn nhằm tiếp cận tốt hơn với nhà đầu tư. Để làm được điều đó, Biên phải xác định lại một cách rõ ràng ba nội dung sau: Phân khúc khách hàng nhắm tới, những vấn đề của xã hội mà dự án đang cố gắng giải quyết (ba vấn đề lớn nhất); Ba tính năng nổi bật nhất của giải pháp; Giá trị độc đáo nhất của giải pháp/sản phẩm/dịch vụ; Lợi thế cạnh tranh vượt trội của dự án; Những thang đo quan trọng về khả năng thành công của dự án; Các kênh phân phối sản phẩm và thông tin với khách hàng; doanh thu và chi phí. Những thử nghiệm được tiến hành liên tục cùng với những giả định được đưa ra và phỏng vấn với khách hàng, đối tác, gặp gỡ chuyên gia. Sau ba tháng, dự án vướng mắc nhất ở những vấn đề sau:

Một vài câu hỏi để bạn tham khảo: – Đâu là lợi thế cạnh tranh không bắt chước được của sản phẩm dịch vụ của bạn? – Dòng doanh thu của bạn gồm những gì? – Dòng chi phí của bạn gồm những gì? (bạn đã tính lương và thời gian của bạn vào đó chưa?) – Bạn đã thực sự hỏi khách hàng thực sự thích gì ở sản phẩm dịch vụ của bạn chưa? Đó có phải là những thứ bạn chủ đích cung cấp ban đầu không? – Những con số nào giúp bạn tự tin đi tiếp? Những con số nào khiến bạn tin rằng nên dừng lại?

Không thể tìm được lợi thế cạnh tranh vượt trội, bền vững mà không ai bắt chước được: Sau khi làm việc với chuyên gia về sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhận ra rằng, chậu trồng rau và tháp trồng rau của mình chỉ là một phiên bản tương đối giống so với những phát minh đã đươc bảo hộ trên thế giới. Điều đó có nghĩa là sản phẩm chưa đủ tính mới để được bảo vệ bởi pháp luật.

Điều khách hàng thích nhất ở sản phẩm lại không nằm trong những giá trị mà doanh nghiệp muốn mang lại cho họ. Hóa ra, khách hàng mua và truyền bá về sản phẩm cho người khác là vì họ thích được trò chuyện và quý mến nhân viên hướng dẫn trồng cây.

Thời gian chưa bao giờ được quy đổi ra chi phí trong doanh nghiệp này: Thời gian chăm sóc khách hàng của chủ doanh nghiệp quá lớn dẫn đến nguy cơ doanh nghiệp không thể mở rộng quy mô và việc đào tạo nhân viên chắc chắn sẽ gặp khó khăn.

Tháp và chậu trồng cây của Phan Xuân Biên.

Phân khúc khách hàng nhắm tới quá nhỏ: Sau khi tiến hành các thử nghiệm với nhiều nhóm người khác nhau, doanh nghiệp nhận ra rằng, đúng là khách hàng có nhu cầu về rau sạch, nhưng tự trồng rau để ăn chỉ là một trong số những lựa chọn của họ và có nhiều giải pháp thay thế để giải quyết vấn đề đó. Phân khúc hiện tại cần co hẹp lại ví dụ chỉ tập trung vào những người có thời gian chăm sóc rau đều đặn hằng ngày, trồng như một thú vui. Nhưng như vậy thì phân khúc nhắm tới quá nhỏ để dự án thực sự có thể triển khai trên diện rộng.

Thất bại tinh gọn

Doanh nghiệp nhận ra rằng, họ không cần một ai đó khuyên họ nên tiếp tục hay dừng lại mà phải tự trả lời lời những câu hỏi liên quan đến mô hình kinh doanh, trong đó, đặc biệt là câu hỏi: “lợi thế cạnh tranh khó bắt chước nhất” của dự án là gì?

Việc liên tục xem xét lại mô hình kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các quan sát, thử nghiệm cũng giúp doanh nghiệp nhận ra điểm yếu khiến mô hình kinh doanh của mình thất bại. Khi có được thông số thuyết phục, người sáng lập sẽ biết mình phải làm gì tiếp theo. Biên đã nói với chúng tôi rằng: “Tôi hoàn toàn thấy thanh thản khi đóng dự án này qua những thử nghiệm, những con số và trên hết, tôi tự nhận ra với dự án này, mình không thể đi xa hơn được do không tìm ra được một lợi thế cạnh tranh khó bắt chước nhất”.

Thực ra, việc đóng cửa một công ty không phải là một điều đáng buồn, mà với cả chủ dự án và mentor lần này, đây là một thành công vì đó là một thất bại tinh gọn, tránh được mất mát thêm về thời gian, công sức và tiền bạc trong tương lai.

 


 

• Phân khúc khách hàng: Các hộ gia đình tại các chung cư hoặc có diện tích trồng rau hẹp ở các thành phố lớn, đặc biệt là ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Người trồng là người thích trồng cây, không có sẵn đất.
• Giá trị mang lại cho khách hàng:
o Chi phí hợp lý: 5.500đ/ngày cho 4 người
o Rau sạch do đất sạch và người trồng tự kiểm định
o Chỉ mất 5 phút trồng và chăm sóc mỗi ngày
o THÁP TRỒNG RAU THÔNG MINH – RAU SẠCH CỦA BẠN
o Tổng diện tích trồng rau của 1 tháp là 3m2
o Tiết kiệm không gian: chỉ cần 1m2 sàn là đặt được 1 tháp
o Có thể di chuyển, xoay tròn để ánh nắng chiếu đều cả tháp
o Có thể tháo rời thuận tiện khi bạn chuyển nhà
o Mỗi tháp gồm 36 chậu kích thước 21x21cm có thể tháo xuống lắp lên thuận tiện khi trồng
o Trồng được tất cả các loại rau, củ, quả (trừ các loại thân quá lớn)
o Bảo hành 2 năm, tháp làm bằng nhựa nguyên sinh màu trắng không độc hại, độ bền 6 – 10 năm
o Miễn phí vận chuyển toàn quốc
• Kênh:
o Facebook: giới thiệu sản phẩm dịch vụ và đặt hàng
o Website: giới thiệu sản phẩm dịch vụ và đặt hàng
o Điện thoại: tư vấn, giao dịch, xử lý đơn đặt hàng và chăm sóc khách hàng
o Online: Tư vấn, chăm sóc sau bán hàng
o Trực tiếp: gặp khách hàng tư vấn cách trồng, chăm rau
• Quan hệ với khách hàng
o Trực tuyến: bán hàng, chăm sóc, tư vấn
o Trực tiếp : Bảo hành
• Dòng doanh thu
o Bán sản phẩm
o Bán đất trồng cây
• Hoạt động chính:
o Marketing để bán hàng
o Đặt hàng đối tác sản xuất chậu
o Giao hàng và hướng dẫn khách hàng
o Bảo hành cho khách hàng
• Nguồn lực chính
o Tài chính: Công ty trước có nguồn doanh thu ổn định có thể hỗ trợ cho dự án mới
o Nguồn nhân lực: Đội ngũ sales: khả năng bán hàng tốt
• Đối tác chính
o Đơn vị sản xuất chậu và giá theo đơn đặt hàng
o Đơn vị sản xuất đất theo đơn đặt hàng
• Chi phí chính
o Chi phí sản xuất
o Chi phí marketing (chạy quảng cáo Facebook)

 

 

KisStartup_wordpress

Khởi nghiệp sáng tạo: Công nghệ mới cho những vấn đề cũ

(BĐT) – 2017 là năm chúng ta chứng kiến sự sôi động của các câu chuyện về công nghệ tiên phong trong làng khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam khi mà số lượng doanh nghiệp (DN)/nhóm khởi nghiệp trong mảng công nghệ 4.0 gia tăng đáng kể.

01_EJGGNhiều DN khởi nghiệp sáng tạo phát triển sang giai đoạn tăng trưởng nhờ tìm ra thị trường thực sự cho sản phẩm, dịch vụ. Các DN này đều có xuất phát điểm khá tương đồng: Những người sáng lập phát triển mô hình kinh doanh từ công nghệ lõi, giải quyết một vấn đề thực tại, tìm ra phân khúc thị trường có vấn đề đó lớn nhất và hình thành nên những sản phẩm, dịch vụ đổi mới. Sau đây là một số mô hình kinh doanh thú vị nhằm giải quyết một vấn đề vốn rất cũ nhưng bằng những công nghệ mới.

Giải bài toán tối ưu đường đi

ABIVIN, một trong các startup thành công nhất năm 2016 đã nhận định, với một thị trường mà chi phí logistics đang thuộc hàng cao nhất thế giới (“chi phí vận chuyển logistics tính theo tỷ trọng trong GDP khoảng 18-20%, gần gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và cao hơn 4% mức bình quân toàn cầu” – theo Ngân hàng Thế giới), thì cơ hội nằm chính ở những thách thức này.

Xuất phát từ thế mạnh thuật toán về dữ liệu lớn, ABIVIN chỉ thực sự bắt đầu nảy sinh ý tưởng khi có khách hàng đầu tiên gặp vấn đề và tìm đến. Từ đó, DN này đã tìm ra hướng đi thực sự về tối ưu hóa đường đi nhằm giảm thiểu chi phí, rủi ro và thời gian cho các DN trong lĩnh vực giao nhận, thương mại điện tử. ABIVIN tận dụng tối đa các công nghệ và thiết bị đang được sử dụng để giảm thiểu chi phí đầu tư cho DN sử dụng giải pháp và tập trung vào chuyên môn của mình là sử dụng dữ liệu lớn để phân tích và tìm ra đường đi tối ưu.

ABIVIN cũng nhận ra rằng, cái khó không nằm ở thuyết phục DN sử dụng giải pháp, mà chính là làm thật tốt các giải pháp đang có để từ đó mọi người nhận ra lợi ích của giải pháp. Mặt khác, với số lượng khách hàng đang tăng lên thuộc các nhóm quy mô khác nhau, trước mắt, việc phục vụ tốt những khách hàng lớn là nền tảng quan trọng để phát triển những giải pháp mang tính đại trà phục vụ nhiều hơn các DN ở quy mô khác nhau.

Công nghệ hỗn hợp trong quản lý nhà cho thuê

Bài toán giải quyết vấn đề thất thoát điện nước, thiếu minh bạch trong giá cả sinh hoạt phí của thị trường nhà cho thuê gây khó cho cả chủ nhà và người thuê nhà. Tình trạng này đang được một nhà khởi nghiệp sáng tạo đáng chú ý năm 2017, quán quân Techfest 2017 – AMI, đưa ra giải pháp rất thuyết phục: Kết hợp giữa việc phát triển phần cứng là các thiết bị kết nối Internet để thu thập và kiểm soát thông tin về điện, nước, sử dụng trí tuệ nhân tạo để phân tích các dữ liệu thu được, từ đó đưa ra những thông tin hữu ích cho người quản lý nhà.

Cộng đồng nhà thông minh AMI ra đời trước tiên là dành cho những người trẻ, muốn tiết kiệm thời gian, công sức thanh toán các hóa đơn tiền điện, nước, muốn có sự minh bạch; những chủ nhà trẻ muốn kiểm soát công việc cho thuê nhà một cách đơn giản nhất, tiết kiệm thời gian nhất.

Việc nắm giữ những thông tin quan trọng xoay quanh một ngôi nhà không chỉ mang lại cho AMI một cộng đồng những người có nhà cho thuê, mà đang mở ra những hướng đi mới trong việc minh bạch hóa và tối ưu hóa nguồn lực khi nắm giữ được thông tin tiêu dùng các sản phẩm cơ bản như điện, nước, Internet – điều mà không chỉ thị trường nhà cho thuê, mà thị trường bất động sản, du lịch đều đang rất cần. Việc nắm thông tin về căn hộ cũng dẫn đến bài toán mới là khả năng tối ưu hóa dung lượng còn trống của các không gian và cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng khác. Do đó, AMI đã phát triển thêm được cả mảng tối ưu việc cho thuê phòng giúp các chủ nhà và dịch vụ sửa chữa nhỏ những hỏng hóc phát sinh trong quá trình thuê nhà.

Giảm thời gian, chi phí trong lĩnh vực y tế

Ở một đất nước mà thời gian bình quân của một lượt khám bệnh là 10 giờ đồng hồ, ai cũng có thể nhìn thấy vấn đề lớn về y tế và chăm sóc sức khỏe. Song giải quyết bài toán đó bắt đầu từ đâu?

Việc phát triển ứng dụng để kết nối bác sĩ, bệnh nhân, chuỗi nhà thuốc vốn là nỗ lực rất nhiều năm qua cho câu chuyện chăm sóc sức khỏe của người dân. Tuy vậy, bài toán y tế không phải là kết hợp một cách cơ học các thành phần trong hệ sinh thái cung ứng dịch vụ lại với nhau. Do đó, xây dựng một ứng dụng kết nối không giải quyết được vấn đề một cách toàn diện. UDr – một ứng dụng kết nối bác sĩ, bệnh nhân, tư vấn khám chữa bệnh trực tuyến được phát triển dựa trên nền tảng của một cộng đồng y tế thông minh đã được phát triển trước đó – là một mô hình kinh doanh tiềm năng.

UDr là sự kết hợp các công nghệ khác nhau để giảm thời gian, chi phí cho cả người bệnh và các cấu phần trong hệ sinh thái. Tận dụng những kết nối các thiết bị IoT sẵn có được các bác sĩ chấp nhận với việc phân tích dữ liệu về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân thông qua cung cấp thông tin về chỉ số sinh tồn của bệnh nhân theo thời gian thực, kết hợp với mạng lưới các bác sĩ gia đình do một đối tác khác phát triển,  UDr đưa ra những cảnh báo các mối nguy hiểm với sức khỏe của bệnh nhân. Có thể thấy UDr là sự kết hợp linh hoạt giữa trực tuyến và ngoại tuyến, tận dụng các nền tảng công nghệ cũng như hiểu biết sẵn có của thị trường, kết hợp với những giải pháp đang có để hình thành một giải pháp có lợi cho người dùng và mang lại giá trị cho các bên tham gia.

Bài toán cũ + công nghệ mới = những hướng đi mới

Trên thực tế, không một DN nào dừng lại ở một bài toán duy nhất với thị trường. Cơ hội cho DN sẽ có thể mở ra theo nhiều hướng khác nhau, có thể là nhiều cơ hội ở những thị trường mới hoặc ngành có vấn đề tương đồng (trường hợp của ABIVIN); cũng có thể là cơ hội mở ra việc phát triển giá trị gia tăng mới trên nền tảng những gì đang có như AMI, hay UDr. Điểm thú vị khi xuất phát ở một thị trường đang phát triển như Việt Nam là một khi đã có những người dùng đầu tiên thì chính lợi ích sản phẩm, dịch vụ mang lại để giải quyết những vấn đề vốn tồn tại rất lâu lại là một điểm quan trọng giúp cơ chế marketing bằng giới thiệu truyền miệng trở thành cách hiệu quả nhất và tiết kiệm chi phí nhất. Một giải pháp ban đầu có thể là nhắm đến những người dùng cuối B2C, nhưng với đặc tính tạo dựng nền tảng, nó hoàn toàn có tiềm năng lấn sân sang thị trường B2B cho DN và ngược lại.

Trong bối cảnh nhiều startup loay hoay với câu chuyện làm thế nào để thương mại hóa sản phẩm và công nghệ của mình, thì những ví dụ trên chứng minh rằng, những vấn đề thực tiễn xã hội luôn là gợi ý quan trọng để phát triển những giải pháp mới cho bài toán cũ, và cách tiếp cận này sẽ luôn mở ra những hướng đi mới cho DN trong tương lai để phát triển bền vững.

Nguyễn Đặng Tuấn Minh – Quản lý & Đồng sáng lập KisStartup

Trường đại học – Trung tâm của khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo

Nếu năm 2016 là năm thể hiện quyết tâm cao nhất ở cấp Chính phủ về định hướng phát triển thúc đẩyNếu năm 2016 là năm thể hiện quyết tâm cao nhất ở cấp Chính phủ về định hướng phát triển thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, thì năm 2017 rất nên là năm các trường đại học thể hiện vai trò tiên phong của mình để thực hiện sứ mệnh đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo (Entrepreneurship & Innovation) để cung cấp cho xã hội những tài năng được trang bị tư duy và kỹ năng cần thiết cho công cuộc đó. khởi nghiệp sáng tạo, thì năm 2017 rất nên là năm các trường đại học thể hiện vai trò tiên phong của mình để thực hiện sứ mệnh đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo (Entrepreneurship & Innovation) để cung cấp cho xã hội những tài năng được trang bị tư duy và kỹ năng cần thiết cho công cuộc đó.

Sáng tạo lại vai trò của trường đại học trong nền kinh tế tri thức- Đổi mới sáng tạo

Trong cuốn sách Innovation 2.0 – Reinventing University Roles in a Knowledge Economy (Đổi mới sáng tạo 2.0- Sáng tạo lại vai trò của trường đại học trong nền kinh tế tri thức) nghiên cứu về 12 trường hợp là những trường đại học đổi mới sáng tạo về công nghệ hàng đầu của Mỹ, hai tác giả Louis G. Tornatzky và Elaine C. Rideout đã chỉ ra năm vấn đề mà các trường đại học muốn đổi mới sáng tạo phải đối mặt. Nó cũng lý giải tại sao một số trường đại học đổi mới sáng tạo thành công, còn một số trường lại gặp khó khăn trong đổi mới sáng tạo. Năm vấn đề đó là (1) Văn hóa của trường đại học, (2) Vai trò của lãnh đạo, (3) Tinh thần khởi nghiệp, (4) Thiết lập mối quan hệ đối tác với doanh nghiệp và cộng đồng, (5) Chuyển giao công nghệ.

Trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp

Lấy câu chuyện hệ sinh thái khởi nghiệp làm trọng tâm, Founder Institute1 xây dựng một mô hình đi theo ba giai đoạn phát triển chính của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Theo đó, trường đại học đóng vai trò quan trọng trong cả ba giai đoạn chính: Hình thành ý tưởng; phát triển sản phẩm và tăng trưởng.

Trong giai đoạn đầu tiên, nhà trường mà cụ thể là giảng viên và các đơn vị hỗ trợ đóng vai trò là những người truyền cảm hứng, cung cấp thông tin, giới thiệu những thành công, điển hình, kinh nghiệm, hỗ trợ phát triển đội nhóm thông qua thúc đẩy hợp tác liên ngành trong sinh viên.

Khi doanh nghiệp có sản phẩm, dịch vụ, nhà trường cần cung cấp những kiến thức cơ bản cần thiết về kinh doanh như luật pháp, thuế, kế toán cho đến những hỗ trợ về nơi làm việc cho các nhà sáng lập doanh nghiệp.

Đối với giai đoạn thứ ba khi hệ sinh thái có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển tốt, trường đại học cần đóng vai trò tiên phong cung cấp những tài năng kinh doanh, nguồn lực chất lượng tốt với tư duy, kỹ năng và trải nghiệm hữu ích để doanh nghiệp tăng trưởng bền vững. Như vậy, trường đại học vừa trang bị cho người học những kỹ năng, kiến thức và trải nghiệm để sẵn sàng khởi nghiệp khi có hướng đi đổi mới sáng tạo thực sự vừa thực thi tốt vai trò của mình trong cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.

Nếu cách tiếp cận về vai trò trường đại học trong nền kinh tế nhấn vào yếu tố nội lực của trường đại học để đổi mới sáng tạo, thì cách tiếp cận về vai trò của trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp cho thấy tính hiệu quả khi đưa sản phẩm dịch vụ từ trường đại học ra bên ngoài và thương mại hóa. Trong khi cách tiếp cận thứ nhất chỉ rõ, để chuyển giao tốt sản phẩm của mình ra bên ngoài, các trường đại học cần thúc đẩy đổi mới sáng tạo mạnh mẽ và hợp tác với khu vực tư nhân, cách tiếp cận thứ hai nhấn mạnh vai trò của trường đại học rất lớn trong truyền cảm hứng, hỗ trợ thẩm định ý tưởng và phát triển đội nhóm trong các trường đại học. Cả hai cách tiếp cận đều toát lên những điểm chính về vai trò của trường đại học trong đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp: (1) Tinh thần doanh nhân và truyền cảm hứng; cung cấp nhân lực chất lượng cao (2) Hợp tác với doanh nghiệp và nắm bắt nhu cầu thị trường. Từ đó có thể thấy, một số yếu điểm rõ nhất của các trường đại học Việt Nam hiện nay như sau:

Nguồn nhân lực và khoảng cách giữa nhà trường và thị trường

Cách đây 20 năm, House Care – một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sửa chữa mọi thiết bị, đồ đạc trong một ngôi nhà từng rất thành công trên thị trường vì sản phẩm dịch vụ được người tiêu dùng đón nhận, mô hình kinh doanh được vận hành trơn tru hiệu quả do những người quản lý đều có kinh nghiệm, trải nghiệm trong và ngoài nước, nhưng công ty không thể lớn hơn quy mô 40 người. Lý do rất đơn giản: không thể đào tạo theo chuẩn đối với người lao động do các trường gần như đều đào tạo lý thuyết, việc chuẩn hóa nhân sự không thể thực hiện được, chi phí đào tạo lại quá lớn. Công ty buộc phải ngừng kinh doanh không phải vì không có lãi mà nhận thấy rằng, nếu tiếp tục duy trì, mô hình sẽ không thể lớn lên được. 20 năm sau, trong thời đại công nghệ như vũ bão, nhiều doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ phát triển được những sản phẩm tốt, có tiềm năng bước chân ra thị trường nước ngoài, nhưng tìm kiếm nhân sự marketing, tài chính, nhân sự trở thành vấn đề đau đầu nhất của chủ doanh nghiệp. Sinh viên ra trường vừa thiếu vừa yếu kỹ năng kinh nghiệm, ngoại ngữ thực hành yếu. Không tìm được người đáp ứng nhu cầu, doanh nghiệp dậm chân tại chỗ và rất khó có bứt phá.

Câu chuyện của 20 năm và bây giờ có một điểm tương đồng: Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đôi khi không chết, nhưng không thể lớn được vì không có những con người tài năng và phù hợp để phát triển mô hình kinh doanh ở những giai đoạn mới. Điều đó chứng minh các trường đại học đang không nắm bắt chặt chẽ xu hướng của thị trường lao động để từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường. Trong tương lai không xa, khi ASEAN trở thành thị trường không biên giới, luồng lao động tự do di chuyển từ các quốc gia Đông Nam Á khác đến Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều lựa chọn hơn về nguồn nhân lực nhưng nhân lực Việt Nam có nguy cơ thua ngay trên sân nhà. Khi đó, bản thân các trường đại học và những quyết sách về đào tạo sẽ không thực thi được sứ mệnh phục vụ xã hội của mình. Thậm chí, thiếu động lực đổi mới sáng tạo, các trường đại học có nguy cơ bị mua lại, thâu tóm sáp nhập một khi thị trường giáo dục có những độ mở nhất định. Đó là câu chuyện của chiến lược tồn tại của các trường đại học trong một hai năm tới, bởi lẽ là một cấu phần của nền kinh tế, trường đại học cũng nằm trong không tránh khỏi áp lực cạnh tranh.

Động lực đổi mới sáng tạo từ giảng viên

Trong một bài phân tích lý do tại sao, trong lòng châu Âu, nước Đức được coi là một trong những đất nước đổi mới sáng tạo bậc nhất vẫn đặt ra câu hỏi, nước Đức học gì từ Silicon Valley, một trong số những câu trả lời là “Ở Stanford, không giáo sư kinh tế nào mà lại không đặt chân vào lĩnh vực kinh tế, họ có thể tự lập một startup hay tham gia với tư cách cố vấn”. Ngẫm lại Việt Nam, sự kết nối lỏng lẻo giữa nhà trường và thị trường đang khiến giảng viên – gạch nối quan trọng giữa nhà trường và doanh nghiệp – thiếu đi sự tiếp xúc thực tiễn, số ít vừa tham gia giảng dạy vừa kinh doanh hoặc tư vấn khởi nghiệp, phần đông hơn hiểu biết về kinh doanh chung chung và rất khó đưa ra những định hướng tốt cho sinh viên về vấn đề thực tiễn cần giải quyết trong kinh doanh. Cũng chính vì thiếu sự tương tác với thị trường và kinh doanh thực tiễn, việc giảng viên truyền cảm hứng để sinh viên khởi nghiệp và hỗ trợ kết nối các nguồn lực để các ý tưởng kinh doanh trong sinh viên có thể phát triển vươn xa không hiệu quả. Đó là chưa kể đến, việc cải tiến giáo trình giảng dạy diễn ra chậm chạp, đang đẩy nhà trường, giảng viên vào thế “không nói chung một ngôn ngữ với thị trường”. Chẳng hạn, trào lưu khởi nghiệp tinh gọn được đào tạo tại rất nhiều trường trên thế giới thì hiện nay mới lác đác được đưa vào một số trường đại học ở Việt Nam từ nỗ lực ban đầu của dự án Đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam Phần Lan (IPP).


Chỉ khi lợi ích của cả người học và người dạy nhận được là ngoài lương thì mới thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Có nhiều cách lý giải cho sự chậm trễ này, song trong bài viết, chúng tôi muốn nhấn mạnh quan điểm về kỳ vọng đầu ra là một trong những nguyên nhân cốt lõi. Quan điểm này được Jan-U. Sandal – một giáo sư nổi tiếng người Na Uy nghiên cứu về Đổi mới sáng tạo, người cố vấn cho rất nhiều quyết sách về giải quyết nạn thất nghiệp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở châu Âu giới thiệu. Trong một xã hội, nếu lợi ích của người đào tạo và lợi ích đầu ra của việc học hành chỉ là LƯƠNG, hay nói một cách dễ hiểu là cả người học và người dạy đều ở một trạng thái tĩnh, người dạy mong dạy để kiếm đồng lương để ổn định, người học cũng chỉ mong học xong ra có đồng lương, thì việc dạy và học đơn thuần chỉ là chuyển giao tri thức. Bằng nhiều ngôn từ khác nhau, người ta có thể gọi đây là tình trạng lười biếng, sự cam phận, mong muốn ổn định, hoặc sự bảo thủ. Đó là sự bất động. Động cơ LƯƠNG đang giết chết sự sáng tạo trong giáo dục và hủy hoại sự năng động sáng tạo của nền kinh tế và của cả xã hội.

Nếu trong trường hợp một giảng viên được lợi vật chất ngoài lương “profit” từ sự đổi mới phương pháp dạy của mình hoặc một sinh viên đổi mới cách học mà kiếm được lợi vật chất ngoài mục đích kiếm đồng lương, tức là sự đổi mới sáng tạo diễn ra từ một phía, quá trình này gọi là “bán tĩnh”, tức là chỉ một bên hưởng lợi.

Chỉ khi cả hai cùng hưởng lợi và đặt việc dạy và học cao hơn mục tiêu chỉ kiếm đồng lương ổn định, khi đó mới tồn tại mối quan hệ chia sẻ tri thức để cùng hưởng lợi, hợp tác và đổi mới sáng tạo một cách năng động vì những “profit” lớn hơn. Lúc này những lợi ích về mặt vật chất không còn là duy nhất.

Hợp tác với doanh nghiệp

Một trong những lý do khiến chi phí khởi nghiệp ở nhiều thành phố lớn trên thế giới thấp và có khả năng cạnh tranh là do các trường đại học mạnh dạn sử dụng hết công suất không gian trống của mình để hợp tác với khu vực tư nhân. Mục đích của việc này là vừa để làm nơi ươm mầm cho các dự án kinh doanh đổi mới sáng tạo tiềm năng, vừa là nơi hút những tài năng đến để tăng trải nghiệm cọ xát với môi trường kinh doanh thực tiễn cho sinh viên trong trường. Hiện nay ở Việt Nam đã có một số trường đại học đang tự phát triển những vườn ươm riêng và dành quỹ đất cho việc ươm mầm, đó là một tín hiệu tốt. Tuy vậy, tư duy tự làm khiến các trường đại học cáng đáng tất cả các nội dung trong việc ươm mầm các dự án khởi nghiệp tiềm năng mà thiếu vắng sự tham gia của các doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, các đơn vị chuyên nghiệp đang đặt ra nhiều vấn đề. Ở Việt Nam, việc hợp tác mới bắt đầu manh  nha, ví dụ BKHoldings – một công ty trong lòng Đại học Bách khoa Hà Nội hợp tác với UP- Coworking Space để phát triển không gian làm việc chung BKHUP là một ví dụ.

Tuy nhiên, nếu các tập đoàn tham gia vào phát triển hạ tầng cho các trường đại học chỉ để thu hút nhân lực và phục vụ mục tiêu marketing – coi sinh viên, giảng viên như những khách hàng tiềm năng là chưa đủ. Đại học và khu vực tư nhân cần hợp tác theo chiều sâu hơn để thúc đẩy đổi mới sáng tạo dựa trên thế mạnh của cả hai bên, đưa nhà trường đến gần hơn với những vấn đề của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng đầu ra cho những sản phẩm nghiên cứu của trường. Tất nhiên, khi nói đến nỗ lực hợp tác, cũng không thể không kể đến những khó khăn từ cơ chế quản lý các trường đại học hiện tại đang phải đối mặt. Ví dụ, trong khi ở Vương Quốc Anh: nhiều trường đại học thành lập các công ty (sở hữu một phần hoặc toàn bộ) để đầu tư nghiên cứu, thực hiện thí nghiệm, sản xuất thử, khai thác quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích từ việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu thì việc phát triển các công ty trong trường đại học ở Việt Nam mới dừng ở mức thí điểm. Việc đặt hàng và hợp tác từ phía các doanh nghiệp khó có thể diễn ra suôn sẻ nếu không có cơ chế thuận lợi cho thúc đẩy cho việc hợp tác này.

Trường đại học, một chủ thể quan trọng của khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo sẽ phát huy được mạnh mẽ thế mạnh và thực thi sứ mệnh của mình hiệu quả khi ở tầm vĩ mô, các nhà quản lý nhìn nhận ra vấn đề đổi mới sáng tạo và cơ chế chính sách cho đổi mới sáng tạo ở trường đại học là nhân tố sống còn cho phát triển một xã hội đổi mới sáng tạo và chủ động sáng tạo giá trị. Khi đó, bản thân các trường chủ động nâng cao nội lực thông qua quyết tâm thay đổi, đặt đổi mới sáng tạo vào nhiệm vụ trọng tâm để tự đổi mới chính mình và xác định kỳ vọng đầu ra một cách rõ ràng minh bạch, bằng chiến lược hợp tác mạnh mẽ và hiệu quả với khu vực tư nhân và thị trường.

Tác giả: Nguyễn Đặng Tuấn Minh. Quản lý & Đồng sáng lập KisStartup.
—————–
Tài liệu tham khảo:
Silicon Valley hơn Đức ở điểm nào? Nguồn: http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Silicon-Valley-hon-Duc-o-diem-nao—10131
Innovation 2.0 – Reinventing University Roles in a Knowledge Economy. http://www.innovation-u.com/InnovU-2.0_rev-12-14-14.pdf
Liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và liên hệ với Việt Nam: Nguồn: http://nistpass.gov.vn:81/tin-chien-luoc-chinh-sach/1241-lien-ket-giua-truong-dai-hoc-va-doanh-nghiep-kinh-nghiem-quoc-te-va-lien-he-voi-viet-nam.html

1 Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp được thành lập năm 2007, có văn phòng ở 90 thành phố trên thế giới với tỉ lệ các doanh nghiệp tốt nghiệp vẫn hoạt động đến nay là 89%.